Blockchain và cơ sở dữ liệu khác nhau thế nào?

Blockchain và cơ sở dữ liệu đều dùng để lưu trữ, truy xuất và quản lý dữ liệu. Tuy nhiên, chúng giải quyết những bài toán khác nhau. Cơ sở dữ liệu thông thường ưu tiên hiệu suất, khả năng chỉnh sửa và quyền quản trị rõ ràng. Blockchain ưu tiên việc duy trì một sổ cái dùng chung giữa nhiều bên, hạn chế khả năng một bên đơn phương thay đổi lịch sử.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải là blockchain có tốt hơn database hay không, mà là mô hình tin cậy và yêu cầu vận hành của hệ thống phù hợp với công nghệ nào.

Blockchain và cơ sở dữ liệu khác nhau ở đâu?

Cơ sở dữ liệu thông thường thường do một tổ chức hoặc ứng dụng kiểm soát. Quản trị viên có thể cấp quyền, sửa bản ghi, khôi phục dữ liệu và thay đổi cấu trúc hệ thống. Database có thể được cài trên một máy chủ hoặc phân phối trên nhiều máy chủ để tăng khả năng chịu lỗi và phục vụ người dùng nhanh hơn.

Blockchain là một dạng sổ cái được sao chép giữa nhiều nút mạng. Các giao dịch mới phải đáp ứng quy tắc của giao thức và được mạng chấp nhận trước khi trở thành một phần của trạng thái chung. Người mới có thể tìm hiểu trước về cách blockchain hoạt động để hiểu vai trò của khối, giao dịch, hàm băm và mạng lưới nút.

Tiêu chí Cơ sở dữ liệu thông thường Blockchain
Quyền kiểm soát Thường thuộc một tổ chức hoặc nhóm quản trị Có thể phân bổ giữa nhiều đơn vị vận hành mạng
Quyền ghi Do chủ hệ thống cấp cho tài khoản và ứng dụng Giao dịch phải tuân theo quy tắc xác thực và cơ chế đồng thuận
Sửa hoặc xóa Có thể cập nhật, xóa hoặc khôi phục theo quyền được cấp Thường bổ sung giao dịch mới thay vì sửa trực tiếp lịch sử đã xác nhận
Đồng bộ dữ liệu Dùng sao chép, máy chủ chính hoặc biểu quyết giữa các nút Dùng cơ chế đồng thuận để thống nhất giao dịch hợp lệ và thứ tự ghi nhận
Hiệu suất Thường phù hợp với truy vấn nhanh và khối lượng thao tác lớn Có thêm chi phí xác thực, sao chép và đạt đồng thuận
Minh bạch Do đơn vị quản trị quyết định Có thể minh bạch rộng rãi hoặc giới hạn theo mô hình mạng
Trường hợp phù hợp Hệ thống nội bộ, ứng dụng tập trung, dữ liệu cần chỉnh sửa thường xuyên Sổ cái chung giữa nhiều bên không muốn phụ thuộc hoàn toàn vào một đơn vị

Các đặc điểm trên không giống nhau ở mọi blockchain. Mạng công khai, mạng riêng tư và mạng có cấp quyền có cách kiểm soát người tham gia rất khác nhau.

Bốn khác biệt cốt lõi giữa blockchain và database

Ảnh minh hoạ: Blockchain và cơ sở dữ liệu khác nhau thế nào?

1. Quyền ghi dữ liệu

Trong database thông thường, chủ hệ thống quyết định ai được đọc, thêm, sửa hoặc xóa dữ liệu. Một ứng dụng bán hàng, chẳng hạn, có thể cho khách hàng tạo đơn nhưng chỉ cho nhân viên được cập nhật trạng thái giao hàng. Quyền cuối cùng vẫn do doanh nghiệp quản lý.

Với blockchain, cần phân biệt hai hành động:

  • Gửi giao dịch: người dùng tạo và ký một yêu cầu thay đổi trạng thái.
  • Ghi giao dịch vào sổ cái: các nút sản xuất khối hoặc xác thực viên kiểm tra rồi đưa giao dịch hợp lệ vào chuỗi.
Có thể bạn chưa biết:  Thổ Nhĩ Kỳ bắt tay vào điều tra cựu CEO FTX Sam Bankman-Fried

Trên blockchain công khai, nhiều người có thể gửi giao dịch nhưng không ai được tùy ý ghi bất kỳ dữ liệu nào vào trạng thái chung. Trên blockchain riêng tư hoặc có cấp quyền, chỉ thành viên được phê duyệt mới có thể vận hành nút hay gửi một số loại giao dịch. Việc lựa chọn mô hình nên dựa trên sự khác nhau giữa blockchain công khai và blockchain riêng tư, thay vì mặc định mạng nào cũng hoàn toàn phi tập trung.

2. Khả năng sửa đổi dữ liệu

Database được thiết kế để cập nhật dữ liệu hiệu quả. Khi khách hàng đổi địa chỉ, quản trị viên sửa sai hoặc hệ thống hủy một đơn hàng, bản ghi có thể được cập nhật trực tiếp. Nhật ký kiểm toán và bản sao lưu vẫn có thể lưu lại lịch sử nếu doanh nghiệp cần đối chiếu.

Blockchain thường vận hành theo nguyên tắc chỉ thêm dữ liệu. Nếu một giao dịch đã được xác nhận cần điều chỉnh, hệ thống thường tạo giao dịch mới để thể hiện trạng thái sửa đổi thay vì xóa bản ghi cũ. Đây là lý do blockchain phù hợp với dữ liệu cần dấu vết kiểm toán liên tục.

Tuy nhiên, không nên hiểu bất biến là tuyệt đối không thể thay đổi trong mọi hoàn cảnh. Chuỗi có thể tái tổ chức trong thời gian ngắn, phần mềm có thể được nâng cấp và cộng đồng có thể tạo nhánh khi bất đồng về quy tắc. Blockchain có cấp quyền còn có thể trao một số quyền can thiệp cho nhóm quản trị. Mức độ khó sửa đổi phụ thuộc vào thiết kế mạng, số lượng bên vận hành và cơ chế quản trị.

3. Cơ chế đồng thuận

Cơ sở dữ liệu phân tán cũng cần cơ chế để các máy chủ thống nhất trạng thái. Hệ thống có thể sử dụng nút điều phối, máy chủ chính hoặc biểu quyết theo số lượng nút. Vì các máy chủ thường thuộc cùng một tổ chức, chúng hoạt động trong phạm vi quản trị và tin cậy đã xác định.

Blockchain dùng đồng thuận để các nút thống nhất giao dịch nào hợp lệ, thứ tự giao dịch và trạng thái nào được xem là chính thức. Với mạng công khai, cơ chế này còn phải xử lý môi trường có người tham gia không quen biết hoặc có thể hành động đối nghịch. Blockchain có cấp quyền thường làm việc với danh sách thành viên đã xác định nên có thể sử dụng cách đồng thuận khác.

Đồng thuận chỉ giúp mạng thống nhất về dữ liệu đã được gửi và quy tắc xử lý dữ liệu đó. Nó không bảo đảm thông tin đầu vào phản ánh đúng thế giới thực. Nếu một bên nhập sai nguồn gốc hàng hóa, blockchain có thể lưu lại bản ghi sai rất bền vững. Muốn giải quyết vấn đề này, hệ thống vẫn cần quy trình kiểm chứng, nguồn dữ liệu đáng tin cậy và trách nhiệm rõ ràng.

4. Chi phí vận hành

Database thông thường thường hiệu quả hơn khi một tổ chức đã có quyền quản trị hợp pháp và được các bên tin cậy. Công nghệ này có hệ sinh thái lâu đời cho truy vấn, báo cáo, sao lưu, khôi phục và quản lý quyền truy cập.

Blockchain phát sinh thêm chi phí do dữ liệu được sao chép, giao dịch phải được xác thực và nhiều nút phải thống nhất trạng thái. Mạng công khai có thể yêu cầu phí giao dịch. Mạng riêng tư không nhất thiết có phí bằng token nhưng vẫn cần máy chủ, quản lý thành viên, giám sát nút, nâng cấp giao thức và xử lý tranh chấp giữa các tổ chức.

Ngoài hạ tầng, dự án còn phải tính đến việc quản lý khóa, tích hợp ứng dụng, kiểm tra hợp đồng thông minh và đào tạo người dùng. Mất khóa hoặc ký nhầm giao dịch có thể khó khắc phục hơn việc đặt lại mật khẩu trong hệ thống tập trung. Vì thế, quy trình bảo vệ tài sản và khóa truy cập phải được xem là một phần của thiết kế vận hành, không phải bước bổ sung sau cùng.

Có thể bạn chưa biết:  Market Cap là gì? 3 điều cần biết về CoinMarketCap

Cơ sở dữ liệu phân tán có phải blockchain không?

Không. Cơ sở dữ liệu phân tán và blockchain đều có thể lưu bản sao dữ liệu trên nhiều máy, nhưng khác nhau về mục tiêu quản trị.

Một cơ sở dữ liệu phân tán thường thuộc cùng một tổ chức. Các máy chủ phối hợp để tăng tốc độ, tính sẵn sàng hoặc khả năng phục hồi. Quản trị viên vẫn có thể thay đổi cấu hình, cấp quyền và khôi phục trạng thái khi xảy ra lỗi.

Blockchain thường hướng đến việc duy trì trạng thái chung giữa nhiều bên không muốn một thành viên có toàn quyền kiểm soát. Lịch sử giao dịch được liên kết bằng kỹ thuật mật mã, còn quy tắc đồng thuận quyết định phiên bản sổ cái được chấp nhận.

Nói ngắn gọn:

  • Phân tán mô tả dữ liệu hoặc hoạt động xử lý được đặt trên nhiều máy.
  • Phi tập trung mô tả quyền quyết định không tập trung hoàn toàn vào một chủ thể.
  • Một hệ thống có thể phân tán về kỹ thuật nhưng vẫn tập trung về quyền quản trị.
  • Một blockchain riêng tư cũng có thể phụ thuộc đáng kể vào một nhóm thành viên nhỏ.

Do đó, chỉ triển khai nhiều nút không tự động biến database thành blockchain hoặc làm hệ thống trở nên phi tập trung.

Khi nào cần blockchain?

Blockchain đáng cân nhắc khi bài toán có đồng thời nhiều yếu tố sau:

  1. Nhiều tổ chức độc lập cùng cần ghi hoặc kiểm tra dữ liệu. Mỗi bên có hệ thống riêng nhưng cần một trạng thái chung để đối soát.
  2. Không bên nào nên có quyền đơn phương sửa lịch sử. Các thành viên muốn giảm sự phụ thuộc vào một đơn vị trung gian duy nhất.
  3. Dấu vết giao dịch có giá trị lâu dài. Việc biết dữ liệu được ghi khi nào, bởi địa chỉ nào và đã thay đổi ra sao quan trọng hơn khả năng chỉnh sửa trực tiếp.
  4. Có thể biểu diễn quy tắc chung bằng giao thức hoặc hợp đồng thông minh. Những quy tắc này phải đủ rõ để các nút kiểm tra theo cùng một cách.
  5. Các bên chấp nhận đánh đổi hiệu suất và chi phí. Lợi ích từ sổ cái chung phải lớn hơn độ phức tạp của việc vận hành mạng.

Một số nhóm ứng dụng có thể phù hợp gồm chuyển giao tài sản số, đối soát giữa nhiều tổ chức, xác minh nguồn gốc hoặc công bố bằng chứng về trạng thái dữ liệu. Tuy nhiên, blockchain chỉ chứng minh được những gì đã được ghi lên mạng. Khi đánh giá một giao dịch, người dùng cần hiểu dữ liệu on-chain và giới hạn của nó, thay vì coi mọi thông tin trên chuỗi là sự thật đã được kiểm chứng ngoài đời.

Trước khi lựa chọn, có thể đặt câu hỏi quyết định: nếu một đơn vị trung lập, được tất cả các bên tin cậy, có thể vận hành database với chi phí thấp hơn thì blockchain còn mang lại lợi ích đủ lớn hay không? Nếu câu trả lời là không, cơ sở dữ liệu thông thường thường hợp lý hơn.

Khi nào cơ sở dữ liệu thông thường phù hợp hơn?

Ảnh minh hoạ: Blockchain và cơ sở dữ liệu khác nhau thế nào?

Database là lựa chọn phù hợp trong nhiều trường hợp phổ biến:

  • Một doanh nghiệp hoặc cơ quan có quyền quản trị rõ ràng và chịu trách nhiệm về dữ liệu.
  • Dữ liệu cần cập nhật, sửa lỗi hoặc xóa thường xuyên.
  • Hệ thống cần phản hồi nhanh, hỗ trợ nhiều truy vấn phức tạp hoặc xử lý khối lượng thao tác lớn.
  • Thông tin chứa dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh hoặc nội dung không nên sao chép sang nhiều nút.
  • Người dùng cần cơ chế đặt lại mật khẩu, hoàn tác thao tác và hỗ trợ xử lý sai sót.
  • Các bên đã có hợp đồng, quy trình kiểm toán và cơ chế giải quyết tranh chấp đáng tin cậy.
  • Dữ liệu chủ yếu phục vụ báo cáo nội bộ, quản lý khách hàng, quản lý nội dung hoặc vận hành ứng dụng tập trung.
Có thể bạn chưa biết:  ICO là gì? Những điều cần quan tâm về Đợt phát hành Coin đầu tiên

Ví dụ, một cửa hàng trực tuyến không cần blockchain chỉ để lưu sản phẩm, tài khoản khách hàng và trạng thái đơn hàng. Một database quan hệ có thể xử lý các tác vụ này đơn giản hơn, đồng thời cho phép nhân viên được phân quyền sửa thông tin khi cần.

Tương tự, việc ghi dữ liệu cá nhân trực tiếp lên blockchain công khai có thể tạo ra rủi ro về quyền riêng tư và khả năng xóa dữ liệu. Mã hóa hoặc băm dữ liệu không phải lúc nào cũng loại bỏ hoàn toàn khả năng liên kết thông tin với một cá nhân. Dữ liệu nhạy cảm nên được đánh giá cẩn thận trước khi đưa lên chuỗi.

Có nên kết hợp blockchain với cơ sở dữ liệu?

Nhiều hệ thống không cần chọn hoàn toàn một trong hai. Kiến trúc kết hợp có thể dùng:

  • Database để lưu hồ sơ đầy đủ, dữ liệu riêng tư và nội dung cần tìm kiếm nhanh.
  • Blockchain để lưu mã định danh, trạng thái giao dịch hoặc bằng chứng về việc dữ liệu đã tồn tại tại một thời điểm.
  • Hợp đồng thông minh để thực thi một số quy tắc chung giữa các bên.
  • Hệ thống ngoài chuỗi để xử lý tệp lớn, báo cáo và các tác vụ cần hiệu suất cao.

Ví dụ, tài liệu có thể được lưu ngoài chuỗi, còn giá trị băm của tài liệu được ghi lên blockchain. Khi đối chiếu, giá trị băm giúp phát hiện tài liệu đã bị thay đổi sau thời điểm ghi nhận. Cách làm này không chứng minh nội dung ban đầu là đúng; nó chỉ hỗ trợ kiểm tra tính toàn vẹn so với bản đã được neo lên chuỗi.

Kiến trúc kết hợp cũng cần quy định rõ nguồn dữ liệu nào là chính thức, ai được cập nhật database, điều gì xảy ra khi dữ liệu ngoài chuỗi khác với trạng thái trên chuỗi và cách xử lý khi khóa truy cập bị mất.

Cách chọn công nghệ phù hợp

Ảnh minh hoạ: Blockchain và cơ sở dữ liệu khác nhau thế nào?

Có thể dùng quy trình sau để tránh triển khai blockchain chỉ vì xu hướng:

Bước 1: Xác định các bên có quyền ghi

Nếu chỉ một tổ chức ghi và quản lý dữ liệu, database thường là điểm khởi đầu hợp lý. Nếu nhiều tổ chức độc lập cùng ghi, hãy tiếp tục đánh giá nhu cầu về sổ cái chung.

Bước 2: Xác định mức độ tin cậy

Nếu các bên tin tưởng một đơn vị trung gian, database dùng chung hoặc dịch vụ đối soát có thể đơn giản hơn. Nếu không bên nào được phép đơn phương kiểm soát lịch sử, blockchain có thể mang lại giá trị.

Bước 3: Kiểm tra nhu cầu chỉnh sửa và riêng tư

Dữ liệu cần xóa, sửa thường xuyên hoặc giữ bí mật không phù hợp để ghi trực tiếp lên blockchain công khai. Có thể dùng mạng có cấp quyền hoặc kiến trúc kết hợp, nhưng chỉ khi lợi ích đủ bù đắp độ phức tạp.

Bước 4: Đánh giá hiệu suất và chi phí toàn vòng đời

Không chỉ so sánh chi phí máy chủ. Cần tính cả tích hợp, quản lý khóa, vận hành nút, nâng cấp, giám sát, kiểm toán và xử lý sự cố.

Bước 5: Thử nghiệm với phạm vi nhỏ

Mô hình thử nghiệm nên kiểm tra một quy trình thực tế và có tiêu chí thành công rõ ràng. Nếu blockchain không giảm được xung đột, thời gian đối soát hoặc sự phụ thuộc vào trung gian, database thông thường có thể là lựa chọn tốt hơn.

Kết luận

Blockchain khác database chủ yếu ở mô hình quyền lực và niềm tin. Database trao quyền quản trị rõ ràng cho một tổ chức, cho phép sửa đổi linh hoạt và thường vận hành hiệu quả hơn. Blockchain dùng cơ chế đồng thuận cùng lịch sử chỉ thêm để duy trì sổ cái chung giữa nhiều bên, đổi lại là chi phí và độ phức tạp cao hơn.

Nên dùng blockchain khi nhiều bên độc lập cần chia sẻ trạng thái nhưng không muốn một bên duy nhất kiểm soát lịch sử. Khi hệ thống có chủ quản đáng tin cậy, cần tốc độ cao, dữ liệu riêng tư hoặc khả năng sửa xóa linh hoạt, cơ sở dữ liệu thông thường thường là giải pháp phù hợp hơn.